Những mảnh ghép tri thức âm nhạc

Khám phá kho lưu trữ kỹ thuật số, nơi kết nối các thế hệ nghệ sĩ, câu chuyện đằng sau những bản nhạc bất hủ và mạng lưới tri thức âm nhạc sâu rộng.

Ngẫu nhiên

Những Mảnh Ghép & Giai Thoại

Xem tất cả
Thông tin Bài hát

Bao Giờ

Tổng quan Bài hát "Bao Giờ" do nhạc sĩ Đỗ Bảo sáng tác phần nhạc. Phần lời và năm sáng tác: Đang cập nhật. Nội dung nghệ thuật "Bao Giờ" mang đặc t...

Tiểu sử Nghệ sĩ

Phương Vy

update_topic(strategic_intent='Creating an encyclopedia entry for Phương Vy based on the provided data, following specified formatting and content rul...

Giai thoại Bài hát

Ba Mươi Năm

Trình duyệt của bạn không cho phép chơi nhạc. Ba mươi năm - Võ Tá Hân phổ nhạc, Khắc Dũng trình bày...

Thông tin Bài hát

Anh vẫn buồn như xưa

Tổng quan Bài hát "Anh vẫn buồn như xưa" được sáng tác và viết lời bởi nhạc sĩ Tăng Nhật Tuệ. Năm sáng tác: Đang cập nhật. Tăng Nhật Tuệ là một nhạc ...

Giai Thoại Cuốn Hút

Xem tất cả

Hào Hoa

Vào đầu thập niên 1970, có một ca khúc mang giai điệu dân dã, bình dị, lời hát thì như là sự giằng xé, trăn trở của người con gái khi có người yêu hào hoa phong nhã, đa tình… Đó là ca khúc mang tênHào Hoacủa nhạc sĩ Giao Tiên. Bài hát thuộc dòng nhạc kích động này rất được yêu thích qua giọng hát của Mai Lệ Huyền. Thời gian này, ngoài một số bài hát đã quá quen thuộc thì Mai Lệ Huyền không có nhiều ca khúc thích hợp với mình để hát ở phòng trà, vũ trường. Trong một lần gặp nhạc sĩ Giao Tiên, cô đã đề nghị ông sáng tác một bài hát có phong cách dí dỏm, vui tươi để có thể “quậy” hết mình trên sân khấu. Từ lời yêu cầu đó, kết hợp với niềm cảm hứng từ đời sống phóng khoáng và đào hoa một người bạn, nhạc sĩ Giao Tiên chính thức sáng tác ca khúcHào Hoa. Click để nghe Mai Lệ Huyền hát Hào Hoa trước 1975 Trên chương trình Âm Nhạc Việt Nam Những Chặng Đường, nhạc sĩ Giao Tiên chia sẻ rằng ông sáng tác bài hát này dựa trên tình huống có thật. Lúc đó ông rất thân với một người chuyên phát hành nhạc, và cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng là Nguyên Thảo. Đây là nhạc sĩ rất hào hoa và điển trai, luôn là “thỏi nam châm” thu hút nhiều người đẹp vây quanh, dễ dàng chiếm lĩnh được trái tim bất kỳ cô gái nào. Từ hình tượng đó, cộng với nội dung được lấy cảm hứng từ những giai thoại ở quê mà ca khúcHào Hoađược ra đời: Chúng bạn thường hay bảo em rằng phước đầy nhàCó được người yêu nổi danh là đấng hào hoaĐời vui biết chừng nàoTình say đắm ngọt ngàoHỏi bạn rằng “Có người nào mà không mơ ước?” Thế mà lòng em vẫn chưa được mấy hài lòngDẫu rằng người yêu của em cũng khá thủy chung Đời đâu biết mà ngờHào hoa số nặng thềBởi vì hào hoa cũng là, là đào hoa vậy thôi… Bài hát có lời khá đơn giản, là sự trăn trở có phần mâu thuẫn của những cô gái có người yêu phong lưu. Khi mới bước vào yêu, bất kỳ cô gái nào cũng mong muốn có người yêu đẹp trai, phong độ, tài giỏi, phóng khoáng, nhưng đi kèm với đó luôn là nỗi bất an vì những hoài nghi về sự chung thủy, vì “chồng đẹp là chồng người ta”, luôn được vây quanh bởi rất nhiều cô gái, là cơ hội rất lớn để các anh chàng hào hoa này nảy sinh ý định ngoại tình: Hào hoa là gì?Nếu không đào hoa là gì?Hào hoa là gì?Nếu không đào hoa là gì? Là một chàng đẹp traiPhong lưu và duyên dángĐôi mắt đa tình nhiều cô si mê… Có một quy luật gần như tất yếu của nam giới từ trước đến nay, đó là “lắm tài thì nhiều tật”. Một cô gái sẽ được nhiều người nhìn với ánh mắt ngưỡng mộ khi sở hữu được một người đẹp trai tài giỏi, nhưng thực chất họ không hiểu được những nỗi khổ sở, sự bất an thường trực, luôn trong tâm thế phải “đề phòng”: Có chồng hào hoa chúng ta thường phải đề phòngBởi người hào hoa ít khi được tiếng thủy chungNgười mang tiếng đèo bồng Tình bay bướm lụy phiềnKhổ nhiều người, khổ cuộc đờiVì người yêu đào hoa… Chúng mình không còn yêu nhau thì thôi Anh nói ra đi trắng đen một lời Có gì mà ngại... Thư Ngoài Biên Trấn là một trong những sáng tác nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Giao Tiên. Nhiều khán... Nhạc sĩ Giao Tiên là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của loại nhạc bình dân đại chúng trước... Nhạc sĩ Giao Tiên sinh năm 1941, ông kết hôn năm 1967 với bà Hương Xuân và họ vẫn sống... Nhạc sĩ Giao Tiên được nhiều người gọi là "nhạc sĩ của đồng quê", có lẽ là bởi các sáng... Mới đây, trên trang cá nhân của nhạc sĩ Giao Tiên đã chia sẻ một việc ít người biết, đó... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Quê nghèo

Năm 1948, sau khi đã đính hôn với ca sĩ Thái Hằng, nhạc sĩ Phạm Duy – lúc đó vẫn đang ở trong hàng ngũ Việt Minh – đã xung phong tham gia vào một hành trình rất gian nan, đó là dấn bước hiểm nguy để từ Thanh Hóa về vùng Bình Trị Thiên trong 6 tháng, vừa để biểu diễn văn nghệ, vừa là đi thực tế để sáng tác những ca khúc phục vụ quần chúng. Những ca khúc nổi tiếng đã ra đời sau chuyến đi này của nhạc sĩ Phạm Duy gồm có Bao Giờ Lấy Được Đồn Tây (Sau đó đổi tên thành Quê Nghèo – viết cho Quảng Bình), Bà Mẹ Gio Linh (viết cho Quảng Trị) và Về Miền Trung (viết cho Huế). Vùng Bình Trị Thiên năm xưa chìm trong khói lửa, khổ đau tang tóc triền miên, nhưng không chỉ vậy, đó là dải đất dường như chịu số phận là phải mang gánh nặng nhất của đất nước hình chữ S, với mưa dầm nắng gắt và bao mùa bão lũ. Nhạc sĩ Phạm Duy đã viết về vùng đất này trong bài hát có tựa đề chỉ 2 chữ, nhưng đã bao hàm hết ý nghĩa: Quê Nghèo. “Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói,có những cánh đồng cát dàiCó lũy tre già tả tơi Ruộng khô có những ông già rách vaiCuốc đất bên đàn trẻ gầyCó người bừa thay trâu cầy” Kinh kỳ là vùng đất Huế xưa, sát bên đó là một vùng quê nghèo đất cày lên sỏi đá, nước mặn đồng chua. Vào những mùa bão lũ, kể cả kinh đô hay thôn xóm nghèo thì cũng đều chung một số phận, dù là cánh đồng hay bãi cát, lũy tre hay ruộng khô cũng đều bị ngập sâu dưới mênh mang nước đục. Ban đầu, bài hát Quê Nghèo được mang tên Bao Giờ Lấy Được Đồn Tây với lời nhạc cũng rất khác: Chiều qua, tôi đi qua vùng chiếm đóngKhông bóng trâu cầy bên đồngVắng tiếng heo gà trên sân… Khi bài hát này được ra mắt, nhạc sĩ Phạm Duy bị lãnh đạo văn nghệ “phê bình” vì bài hát về cuộc sống khó khăn của người dân quê này bị đánh giá là có nội dung tiêu cực. Nhạc sĩ Phạm Duy đã thực sự đến tận nơi, sống cùng và nghe trực tiếp những câu chuyện thương tâm của người dân vùng quê miền Trung, nên bài hát là bức tranh sống động đặc tả được chính xác cuộc sống ở quê nghèo: Bình minh khi sương rơi mờ trên rẫyThấp thoáng bóng người bên ngòiTát nước với giọt mồ hôi Chiều rơi thoi thóp trên vài luống khoaiHiu hắt tiếng bà mẹ cườiVui vì nồi cơm ngô đầy… Phần nội dung của lời được viết lại này đã không còn xoay quanh cuộc chιến nữa, mà đã mô tả hình ảnh chân thực về con người và cuộc sống khó khăn nơi đây mà nhạc sĩ được chứng kiến tận mắt trong những ngày được sống chung với dân quê. Đó là những ông già rách vai, đàn trẻ gầy gò, những cô gái quê ngày đêm vất vả, bên những mái tranh điêu tàn xơ xác… Bao giờ cho lúa được mùa luôn, lúa ơiĐể cho cô con gái không buồn vì gió ĐôngBao giờ cho lúa về đầy sân, hỡi emĐể cho anh trai tráng được gần người gái quê. Làng tôi luôn luôn vươn vài đám khóiNhững mái tranh buồn nhớ ngườiXơ xác điêu tàn vì ai Nửa đêm thanh vắng không một bóng traiCó tiếng o nghèo thở dàiVỗ về trẻ thơ bùi ngùi… Click để nghe Thái Thanh hát Quê Nghèo năm 1952, khi bà mới 18 tuổi Nhạc sĩ Phạm Duy nói rằng những vùng quê miền Trung ông đi qua hoàn toàn thiếu bóng trai trẻ, vì hầu hết đã không còn sau những trận càn của giặc, số còn lại thì cũng đã lên đường vào quân ngũ. Vì vậy những cảnh tượng mà Phạm Duy chứng kiến là “nửa đêm thanh vắng không một bóng trai” và điệu ru con buồn của những bà mẹ trẻ, vỗ về giấc ngủ trẻ thơ bùi ngùi… Nhạc sĩ Phạm Duy có sức sáng tác mạnh mẽ hiếm thấy, và trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của mình ông đã để lại rất nhiều bài hát bất hủ, trong đó các bài nhạc về vùng quê nghèo như là Bà Mẹ Quê, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Quê Nghèo, Nương Chiều, Tình Hoài Hương… Những bài hát đã trở thành gia tài quý giá cho nhiều thế hệ yêu nhạc được nghe và cảm nhận, để thêm yêu những vùng quê, người dân hiền lành chân chất mà bao nhiêu năm qua rồi vẫn chưa thể thoát ra những phận đời đau xót. Mời các bạn nghe lại ca khúc Quê Nghèo qua giọng hát Thái Thanh: Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Những Bản Nhạc Phổ Thơ Phạm Duy (Phần 1)

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng là một trong những nhạc sĩ phổ thơ nhiều nhất, nổi tiếng nhất, điển hình là phổ thơ Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Minh Đức Hoài Trinh. Nhờ nhạc Phạm Duy mà công chúng yêu nhạc biết đến những nhà thơ Phạm Văn Bình, Vũ Hữu Định… Trong số vài trăm nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam xưa, có không ít nhạc sĩ thành công với những bài nhạc phổ thơ, nổi tiếng nhất là Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Ngô Thụy Miên… nhưng nếu xét về số lượng ca khúc được yêu thích, thì không ai có thể sánh bằng với nhạc sĩ Phạm Duy, vốn được công nhận là một “phù thủy” trong việc phổ nhạc cho thơ. Với tài năng sáng tác đa dạng thể loại của mình, nhạc sĩ Phạm Duy không chỉ phổ nhạc thành công cho những thi phẩm đã rất nổi tiếng trước đó như Ngậm Ngùi (Huy Cận), Tiếng Sáo Thiên Thai (Thế Lữ), Hoa Rụng Ven Sông, Tiếng Thu (Lưu Trọng Lư), Màu Tím Hoa Sim – Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Hữu Loan)… mà ông còn là người chắp cánh cho tên tuổi của những nhà thơ bay cao, bay xa, dù trước đó không được công chúng biết đến rộng rãi, như Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Em Lễ Chùa Này; Nguyễn Tất Nhiên với Em Hiền Như Maseor, Hai Năm Tình Lận Đận, Thà Như Giọt Mưa; Vũ Hữu Định với Còn Chút Gì Để Nhớ; Phạm Văn Bình với Chuyện Tình Buồn; Minh Đức Hoài Trinh với Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Đừng Bỏ Em Một Mình; Huyền Chi với Thuyền Viễn Xứ; Linh Phương với Kỷ Vật Cho Em. Sau đây mời các bạn cùng xem lại 24 bài ca bất hủ được phổ từ thơ của nhạc sĩ Phạm Duy, được chia thành 4 phần. Sau đây là phần 1, những bài nhạc phổ thơ quen thuộc: Thuyền Viễn Xứ (thơ Huyền Chi) Tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc này là thi sĩ Huyền Chi, tên thật là Ngọc Bút, quê quán ở Bắc Ninh. Vì hoàn cảnh đất nước, phải ly hương từ rất sớm, bà đã viếtThuyền Viễn Xứtừ năm 1952. Những năm tuổi nhỏ được theo cha mẹ về thăm quê mỗi năm và đi đây đi đó, nữ thi sĩ đã có nhiều cảm xúc về quê hương xứ Bắc. Hơn nữa, sự phân ly, chia cắt gia đình quá sớm khi còn bé đã để lại một ấn tượng sâu trong lòng Huyền Chi. Vì vậy bà đã tưởng tượng ra một cuộc chia ly trên quê hương (trước khi nó biến thành sự thật vào năm 1954). Đó là lý do ra đời của bài thơThuyền Viễn Xứ. Click để nghe Thuyền Viễn Xứ Năm 1952, Huyền Chi đến nhà in báo Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo quận Nhứt để xem tập thơ vừa in xong của mình. Tập thơ mang tên Cởi Mở, gom lại 22 bài thơ được viết từ khi tác giả mới 16 tuổi. Lúc đó tuy mới 18, cô gái tên Ngọc Bút (Huyền Chi) đã tham gia biên tập thơ cho báo Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương và gia nhập nhóm thơ – văn – nhạc lấy tên là Chim Việt. Những bài thơ trong tập đã được đăng rải rác trên một số báo, Ngọc Bút dùng bút danh Khánh Ngọc, rồi sau đó là Huyền Chi. Cũng vào buổi đó, nhạc sĩ Phạm Duy vừa đến và được bà Đào, chủ nhà in, giới thiệu về nữ thi sĩ trẻ tuổi Huyền Chi. Vị nhạc sĩ khi ấy hãy còn trẻ, mới 32 tuổi nhưng đã là tên tuổi nổi tiếng nhất ở Sài Gòn. Được biết là Huyền Chi vừa in xong tập thơ, ông mượn xem và xin một tập để nếu có bài nào hay thì xin được phổ thành ca khúc. Năm 1953, nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc cho bài thơ, với giai điệu buồn mênh mang như từng đợt sóng đưa con thuyền xa bến, với những lời hát chẳng những gửi gắm niềm nhớ nhung của một triệu người rời quê cha đất tổ vào 1 năm sau đó (1954), mà hơn hai thập niên sau đó sẽ lại một lần nữa gửi gắm nỗi lòng của hàng triệu người phải bỏ lại tất cả những gì yêu thương nhất trên mảnh đất quê hương để phiêu bạt nơi đất lạ quê người: Chiều nay sương khói lên khơiThùy dương rũ bến tơi bờiLàn mây hồng pha ráng trờiSóng Đà Giang thuyền qua xứ người Bài hát này đặc biệt được yêu thích với giọng hát buồn mênh mang, thẳm sầu và ngấn lệ của danh ca Lệ Thu. Mùa Thu Chết (thơ Apolinaire – Bùi Giáng) Mùa Thu Chếtlà ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ thơ của thi sĩ Pháp Apolinaire theo bản dịch tiếng Việt của Bùi Giáng. Ca khúc này gắn liền với sự nghiệp của Julie, bởi vì đây là ca khúc mà cô thu dĩa đầu tiên, là ca khúc đánh dấu thời điểm Julie chuyển sang hát nhạc Việt sau một thời gian dài hát nhạc ngoại trong những năm đầu của sự nghiệp. Đặc biệt hơn, bài hát này được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác riêng cho Julie, và cũng trong thời điểm đó, nghệ danh “Julie Quang” được nhạc sĩ Phạm Duy chọn để ra mắt công chúng. Click để nghe Julie hát năm 1992 Julie nói về bài hát như sau:“Mùa Thu Chết là một kết hợp của Thi Ca – East meets West (Đông Tây gặp gỡ) – thai nghén và sinh ra bởi những cổ thụ như Apolinaire, Bùi Giáng và Phạm Duy thì làm sao không đáp ứng được nhu cầu thời thế. Duyên may cho tôi kết tụ tại đấy…” Trong hồi ký của mình, Julie kể rằng vào năm 1970, thời điểm cô bắt đầu được nhạc sĩ Phạm Duy dẫn dắt để chuyển sang hát nhạc Việt, cô không biết Bùi Giáng là ai, dù lúc đó ông đã là một thi sĩ lừng lẫy. Một hôm Bùi Giáng đến thăm Phạm Duy, nhạc sĩ khoe với thi sĩ:“Để Moi bảo bọn nhỏ đàn hát cho Toi nghe! Julie, con hát bài “Vòng Tay Nữ Sinh” và bài “Hai Khía Cạnh Cuộc Đời nhé!”(Đó là 2 ca khúc nhạc ngoại lời Việt của Phạm Duy, tên gốc là To Sir With Love và Both Sides Now). Trong lúc Julie hát thì Bùi Giáng cầm cây bút chì hí hoáy vào một tờ giấy… Rồi ông khen Julie hát hay, và nói:“Ông và Bố sẽ có bài hát dính liền với tên con!” Khi Julie đang hát thì thi sĩ dịch bài thơ L’autaumne est morte của thiên tài Guillaume Apolinaire ra tiếng Việt ngay tại chỗ, và cũng trong ngày hôm ấy nhạc sĩ Phạm Duy đã cho ra đời ca khúcMùa Thu Chếtđể dành riêng cho giọng hát Julie: “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo,Em nhớ cho mùa thu đã ᴄhết rồi” Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (thơ Hữu Loan) Năm 1949, tại Thanh Hóa, từ nỗi đau đớn vô cùng vì mất đi người vợ yêu thương, nhà thơ Hữu Loan sáng tác một bài thơ mang tênMàu Tím Hoa Sim. Khi đó ông làm thơ là để cho riêng mình, cho nỗi đau không thể diễn tả bằng lời, và có lẽ là lúc đó ông cũng không thể ngờ được rằng tác phẩm của mình lại có sức sống bền bỉ đến như vậy. Đã hơn 70 năm qua, câu chuyện buồn về một đồi tím hoa sim vẫn được hàng triệu người nhớ đến qua những tác phẩm âm nhạc bất hủ. Tại miền Nam từ thập niên 1960, đã có rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc cho bài thơ này thành những ca khúc nổi tiếng, như Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh, sau đó là các nhạc sĩ Song Ngọc, Duy Khánh, Anh Bằng… Tuy nhiên bài hát nổi tiếng nhất và bám sát theo lời gốc của bài thơ nhất có lẽ là ca khúcÁo Anh Sứt Chỉ Đường Tà. Nhạc sĩ Phạm Duy, người từng gặp thi sĩ Hữu Loan trong chiến khu từ cuối thập niên 1940, đã bắt đầu phổ nhạc cho bài thơMàu Tím Hoa Simngay từ khi nó vừa được sáng tác, nhưng phải đến năm 1971 thì bài hátÁo Anh Sứt Chỉ Đường Tàmới được hoàn thành, rồi được danh ca Thái Thanh hát lần đầu trong băng Shotguns số 25 của nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngay sau đó lại được Elvis Phương hát lại trong băng Shotguns số 26. Click để nghe Thái Thanh hát Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà trước 1975 VớiÁo Anh Sứt Chỉ Đường Tà,nhạc sĩ Phạm Duy cũng đã giữ lại hầu hết câu chữ của bài thơ gốc, trở thành ca khúc bất tử qua thời gian tròn nửa thế kỷ. Còn Chút Gì Để Nhớ (thơ Vũ Hữu Định) Bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” của cố thi sĩ Vũ Hữu Định, vỏn vẹn chỉ có 4 khổ nhưng đã vẽ được bằng ngôn ngữ thơ một bức “chân dung” rất riêng của Pleiku, một thành phố cao nguyên miền Nam. Tác phẩm của Vũ Hữu Định, đặc biệt là sau khi được âm nhạc Phạm Duy chắp cánh, đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ, vô hình trung trở thành một trong những “lời giới thiệu” nhẹ nhàng mà sâu lắng về Pleiku. Nói cách khác, Vũ Hữu Định (và Phạm Duy) đã đội vương miện cho thành phố Pleiku. Bài thơ được đăng trong báo Khởi Hành năm 1970, được lọt vào mắt của Phạm Duy, và nhạc sĩ đã tìm lên đến Pleiku để gặp Vũ Hữu Định. Trong một buổi chiều họp mặt nhiều văn nghệ sĩ của Pleiku, trong đó có tác giả của bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” – Vũ Hữu Định, nhạc sĩ Phạm Duy đã rút giấy bút ra từ túi áo và kẻ rất nhanh những dòng nhạc, rồi hát thử cho mọi người nghe bàiCòn Chút Gì Để Nhớvà sau đó bài hát đã nổi tiếng ngay sau khi phát hành. Toàn bộ bài hát 16 câu đều đắt giá, mô tả bức tranh của một vùng phố cao nguyên, dù không đẹp lộng lẫy, nhưng đủ để lại bao lưu luyến cho lòng người. Đặc biệt nhất là 2 câu hát thường được nhắc tới khi hát về Pleiku: em Pleiku má đỏ môi hồngở đây buổi chiều quanh năm mùa đông… Click để nghe Thái Thanh hát Còn Chút Gì Để Nhớ trước 1975 Ngậm Ngùi (thơ Huy Cận) Lúc sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy có lần chia sẻ, ông rất mê thơ Huy Cận. Năm 1940, ông từng chọn 2 bài thơ của thi sĩ Huy Cận là bàiNhớ Hờvà bàiThu Rừngđể tập tành phổ nhạc nhưng không thành công. Thế rồi một cơ duyên khác lại được mở ra, đó là năm 1960, người tình của ông khi đó là nữ thi sĩ Lệ Lan, người rất yêu thơ tiền chiến đã bày tỏ mong muốn ông phổ nhạc những bài thơ mà nàng thích trong đó có bài “Ngậm Ngùi” của Huy Cận. Chiều lòng người đẹp, nhạc sĩ đồng ý “hát lên những bài thơ mà nàng thích”, nhưng thực lòng ông không quá để tâm và kỳ vọng về tác phẩm này. Sau thất bại ở lần thử đầu tiên với thơ Huy Cận, nhạc sĩ có lẽ cũng mất đi ít nhiều cảm hứng dù lúc đó ông đã rất thành công trong nhiều bài nhạc phổ thơ khác Tuy nhiên, điều bất ngờ ngoài sức tưởng tượng của nhạc sĩ là ca khúc “Ngậm Ngùi” từ khi ra đời được yêu thích và đón nhận nồng nhiệt cho đến tận ngày nay. Vô số ca sĩ đã chọn trình diễn ca khúc này, trong đó có những giọng ca đã trở thành huyền thoại trong nhiều thế hệ yêu nhạc như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Duy Quang, Thái Hiền, Ý Lan,… Nắng chia nửa bãi, chiều rồi!Vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầuSợi buồn con nhện giăng mauEm ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây Click để nghe Thái Thanh hát Ngậm Ngùi trước 1975 Click để nghe Lệ Thu hát Ngậm Ngùi trước 1975 Chuyện Tình Buồn (thơ Phạm Văn Bình) Nhà thơ Phạm Văn Bình được nhiều người biết đến trong làng văn nghệ từ thập kỷ 1960 và 1970, đặc biệt là kể từ khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ bài thơ Chuyện Tình Buồn của ông thành ca khúc nổi tiếng. Có thể nói chỉ cần duy nhất 1 bài này, tên tuổi của Phạm Văn Bình đã được lưu danh thiên cổ. Nhà thơ Phạm Văn Bình sinh năm 1940 ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế). Sau khi hoàn tất bậc Trung Học và có bằng Tú Tài 2, ông về quê dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963. Ông đứng trên bục giảng từ 1963 đến năm 1966 thì phải rời trường để thi hành lệnh động viên vào quân ngũ. Sau khi được thụ huấn ở quân trường, nhà thơ Phạm Văn Bình được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý ᴄhιến của sư đoàn TQLC, làm việc tại Sài Gòn. Từ đó, ông có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ được xuất hiện trên các tạp chí, trong đó có bàiChuyện Tình Buồnđược nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc cùng tên nổi tiếng qua các giọng hát danh ca Thái Thanh, Sĩ Phú, Tuấn Ngọc… Thái Thanh hát Chuyện Tình Buồn trước năm 1975 Click để nghe bài hát Chuyện Tình Buồn qua tiếng hát Tuấn Ngọc Click để nghe Sĩ Phú hát Chuyện Tình Buồn Tình Cầm (thơ Hoàng Cầm) Sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng ông rất yêu mến các sáng tác của nhà thơ Hoàng Cầm, đã nhiều lần đưa thơ vào nhạc. Tình bạn thân thiết của Phạm Duy và Hoàng Cầm không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa một nhạc sĩ phổ nhạc và một nhà thơ. Mà qua những bài thi nhạc hòa quyện đó, họ vỗ về nhau về tinh thần, nâng đỡ nhau cùng thăng hoa trong sự nghiệp. Nhạc sĩ Phạm Duy, ngoài việc có tài năng thiên bẩm về nhạc, như thể muôn vàn nốt nhạc đã được soạn sẵn trong đầu, đọc thơ mà ra nhạc, thì ông còn có sự chăm chút chỉn chu, thấu đáo của người nhạc sĩ trong từng câu chữ và ngôn từ. Và ca khúc“Tình Cầm” mà ông phổ nhạc từ bài thơ“Nếu Anh Còn Trẻ”của thi sĩ Hoàng Cầm chính là minh chứng cho sự toàn tâm, thuỷ chung đó của nhạc sĩ Phạm Duy với âm nhạc. Click để nghe Sĩ Phú hát Tình Cầm Bài thơ được Hoàng Cầm viết năm 1941, nhưng đến tận năm 1985, Phạm Duy mới đem phổ nhạc. Có lẽ bởi đến tận khi đó, khi tuổi đã ngoài sáu mươi, mọi chuyện đã an bày, ông mới thấu cảm được nỗi đau của người bạn trong mối tình ẩn giấu sau bài thơ chất chứa nhiều dự cảm buồn. Nếu anh còn trẻ như năm ấyQuyết đón em về sống với anhNhững khoảng chiều buồn phơ phất lạiAnh đàn em hát níu xuân xanh… Tiếng Sáo Thiên Thai (thơ Thế Lữ) Trong quan hệ gia đình, nhạc sĩ Phạm Duy có chút dính líu với nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến Thế Lữ. Vợ của nhạc sĩ Phạm Duy là danh ca Thái Hằng gọi vợ của Thế Lữ (Phạm Thị Nghĩa) là cô ruột. Như vậy Phạm Duy – Thái Hằng sẽ gọi Thế Lữ là chú (theo cách gọi của người Bắc, tức là dượng theo cách gọi của miền Nam), và chính Thế Lữ là người đặc nghệ danh cho cô gái mang tên Phạm Thị Quang Thái là Thái Hằng. Tiếng Sáo Thiên Thai vốn là một bài thơ rất nổi tiếng của Thế Lữ được xuất bản năm 1941. Hơn 10 năm sau đó (1952), nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ thành nhạc: Click để nghe Thái Thanh hát Tiếng Sao Thiên Thai trước 1975 Click để nghe Khánh Ly – Lệ Thu song ca Tiếng Sáo Thiên Thai Kỷ Vật Cho Em (thơ Linh Phương) Kỷ Vật Cho Emlà một bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy viết về sự bi hùng của người lính trong thời binh lửa, Nhạc sĩ Phạm Duy đã nói về bài hát này trong hồi ký: “…Bài hát trở thành một hiện tượng thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải. Nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở bốn vùng ᴄhιến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà, và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản ᴄhιến, nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người Việt Nam, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua bên kia Hạ Lào…”. Click để nghe Thái Thanh hát Kỷ Vật Cho Em trước 1975 Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lạiXin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.Anh trở lại có thể bằng ᴄhιến thắng Pleime,Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã, Tưởng Như Còn Người Yêu (Thơ Lê Thị Ý) Một bài thơ rất buồn của nhà thơ Lê Thị Ý được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Lê Thị Ý là em họ của nhạc sĩ Phạm Tuyên, bà gọi nhà văn hóa Phạm Quỳnh (cha của Phạm Tuyên) là bác ruột (anh của mẹ, người miền Nam gọi là cậu). Anh của Lê Thị Ý là nhà thơ Vương Đức Lê (tên thật là Lê Đức Vương). Khi nhà thơ Vương Đức Lê làm chủ bút tuần báo Gào Thét, ông đã đem bài Thương Ca 1 trích trong tập thơ Thương Ca gồm 10 bài của cô em gái Lê Thị Ý để đăng trên Gào Thét. Báo vừa phát hành, nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh đọc được liền điện thoại cho ban của mình là Phạm Duy để đề nghị phổ nhạc. Ngay sau đó, 1 ca khúc mang tên Tưởng Như Còn Người Yêu phổ từ Thương Ca 1 được ra đời: Ngày mai đi nhận xáᴄ ᴄhồngSay đi để thấy mình không là mìnhNgày mai đi nhận xác anhCuồng si thuở ấy, hiển linh bây giờ Click để nghe Julie Quang hát Tưởng Như Còn Người Yêu trước 1975 Kết thúc phần 1 những ca khúc nhạc phổ thơ nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy. Phần 2 sẽ giới thiệu những bài nhạc phổ thơ quen thuộc của 5 thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Cung Trầm Tưởng, Lưu Trọng Lư, Minh Đức Hoài Trinh. Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân... Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca... Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải... Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải... Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc... Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh.... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Nỗi Lòng Người Đi

Trong vòng một trăm năm qua, hiếm có dân tộc nào phải chịu cảnh ly hương nhiều như người Việt. Trong tâm thức người Việt nói chung, quê hương là mẹ, là nhà, là cội nguồn gốc gác không bao giờ có thể cắt rời. Ly hương là một nỗi đau vừa thầm kín, vừa hiển hiện của những người con xa xứ. Nhiều nhạc sĩ tài hoa đã đem tâm tư đó vào âm nhạc, viết nên một loạt các ca khúc thương về cố xứ và dễ dàng nhận được sự đồng cảm của hầu khắp khán giả yêu nhạc. Từ thời thập niên 1940, chứng kiến hoàn cảnh ly loạn, các nhạc sĩ thời tiền chiến đã sáng tác những ca khúc có nội dung như vậy và đã trở thành bất hủ, như là Trở Về (Châu Kỳ), Tình Quê Hương (Việt Lang), Ngày Về (Hoàng Giác), Quê Mẹ (Thu Hồ), Ôi Quê Xưa (Dương Thiệu Tước), thời thập niên 1950 có thêm các ca khúc Làng Tôi (Chung Quân), Hướng Về Hà Nội (Hoàng Dương), Thuyền Viễn Xứ, Tình Hoài Hương (Phạm Duy)… Đỉnh điểm là cuộc di cư năm 1954, khi vào đến miền Nam, nhiều nhạc sĩ đã sáng tác những ca khúc nhớ về xứ Bắc: Chiều Mưa Nhớ Bắc (Hoàng Trọng), Giấc Mơ Hồi Hương (Vũ Thành), Nhạt Nắng (Y Vân), Mưa Sài Gòn  Mưa Hà Nội (Phạm Đình Chương), và được yêu thích nhất có lẽ là Nỗi Lòng Người Đi, một ca khúc được nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác trong 10 năm. Ông đã kể về bài hát này như sau: “Khi lên tàu di cư vào miền Nam năm 1954, tôi đã có cảm hứng viết nhạc phẩm này. Nhưng đâu phải viết một lần là xong mà phải mất tới mười năm, sửa chữa nhiều lần và đến năm 1965 mới cho phổ biến bản này. Khi bản Nếu Vắng Anh phát hành được công chúng yêu chuộng thì tôi hứng khởi hoàn tất bản Nỗi Lòng Người Đi để tiếp tục cái đà sáng tác đang đi tới. Thực ra bản này được thai nghén đầu tiên trong sự nghiệp âm nhạc của mình khi từ giã miền Bắc vào Sài Gòn. Hồi còn trẻ cũng có viết mấy bản nhạc đầu tay nhưng không được phổ biến, cho nên bây giờ cũng không còn nhớ rõ, và coi như là Nỗi Lòng Người Đi là đứa con đầu lòng mặc dù nó ra mắt chậm hơn bản Nếu Vắng Anh”. “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu” là câu mở đầu cho nhạc phẩm nổi tiếng đã nói thay được cho tâm sự của hàng triệu người. “Hà Nội” ở đây không còn là một địa danh riêng của tác giả, mà đã trở thành mỗi nơi cho mỗi người nghe nhạc, vì nếu ai cùng chung hoàn cảnh phải lìa xa quê hương và người yêu xưa thì đều yêu thích từng lời ca được bật lên từ “nỗi lòng người đi” này: Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêuBao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiềuHà Nội ơi nào biết ra sao bây giờAi đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa… Tuổi mười tám là tuổi vừa biết mộng mơ khi bước vào đời, nên khi vừa biết mới bước vào đường yêu, lòng tràn đầy tha thiết cùng chung mộng ước về tương lai. Nhưng khi xa Hà Nội rồi thì “bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều”, tình yêu bị ngăn cách không phải do lòng người, mà vì hoàn cảnh phải chia xa rời nhau mỗi người mỗi phương trời khác. Chàng trai luôn nhớ về quê và người yêu cũ, khi nỗi lòng chất ngất dâng cao, mới gọi tên quê quán thiết tha với nỗi lòng tha thiết của người đi xa, câu “Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ” chứa đầy tình yêu và luyến tiếc pha với nỗi lo trăn trở của người đi xa, khi đã ra đi biền biệt không biết ngày nào mới trở lại. Hình ảnh “Ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa” thật đơn sơ và đẹp đẽ, tả người con gái Hà Nội đứng chờ người yêu ven hồ. Những lần hẹn hò bên hồ nước hữu tình đã khắc sâu mãi trong ký ức để nhớ nhung hoài về cảnh cũ người xưa. Click để nghe Tuấn Ngọc hát Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm sayĐôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầyBạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn, quen sống ca vui bên nàngNay khóc tơ duyên lìa tan… Tôi xa Hà Nội năm em tuổi mười sáu trăng tròn, lại mới bước vào đường yêu nên “tình ái em đong thật đầy” trong đôi tay ngà ngọc. Tuổi mười sáu mang nhiều mộng ước đầy tràn vì chưa nếm khổ lụy sẽ vương mang nếu một mai tình xa cách. Tuổi mười sáu đong đầy hy vọng màu xanh sắc lá, chưa hề nghĩ đến màu úa vàng khi một mai mỗi đứa mỗi nơi. Sau chuỗi cung trầm thương tiếc là tiếng kêu “Bạn lòng ơi” chợt dần cao vút lên như tiếng buồn than cho kỷ niệm êm đềm ngày vui ấy đã xa rồi, ngày vô tư chưa nhuốm sầu lo, tôi chỉ biếtmang cây đàn quen sống ca vui bên nàng. Tình yêu thơ mộng thanh thoát với tiếng đàn lời ca bên nhau, cứ tưởng là mãi bền lâu, đâu có ai nghĩ đến có một ngày mình sẽ khóc tình duyên ngăn cách:“Nay khóc tơ duyên lìa tan”. Giờ đây biết ngày nào gặp nhauBiết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câuThăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời,ngậm đắng nuốt cay nhiều rồiHồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ… Chuyện tình đang say đắm thì vụt tan mất khi hai người nay ở hai phương trời, biết ngày nào mới gặp lại. Định mệnh đã đắng cay chia rẽ tình duyên để “Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu”. Người nghe nhạc chùng lòng xuống theo điệu nhạc và cũng theo tấm chân tình của chàng trai, biết về đâu để gặp lại ngày xưa, để trao cho nàng những lời ân tình ngày cũ. “Thăng Long ơi!” là tiếng gọi quê hương xứ sở của người đi vẫn không nguôi nhớ về nơi đã nuôi mình lớn lên từ khi mới ra đời. Dù tha phương về phương trời khác, dù gặp muôn vàn đắng cay chua xót trên đường đời nhiều gió cuốn hoa trôi, thì “Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ”. Người nghe nhạc cảm nhận được nỗi nhớ quê theo từng nốt nhạc trầm thương tiếc, nói lên được tình son sắt của người xa quê có đi đâu cũng hoài nhớ thương về. Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vuiNhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùiSài Gòn ơi!Mộng với tay cao hơn trờiTôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi… Hôm nay giữa Sài Gòn hoa lệ phố vui khoe sắc màu bao nhiêu tà áo, nhưng chỉ riêng một người đi trong bùi ngùi tưởng nhớ hình bóng ngày xưa, dù có đi đâu khắp thế gian cũng hoài vọng về một Hà Nội xưa cùng người yêu cũ. Tâm tư sầu vắng mà “mộng với tay cao hơn trời” để hái hoa tiên cho đời. Chỉ có nghệ sĩ mới hái được loài “hoa tiên” để lại cho người đời. Và nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tạo âm nhạc, đã “hái” và để lại cho chúng ta một thương tình ca thương nhớ, mãi bất hủ vì ca khúc này chứa đựng hết tâm sự buồn thương hoài nhớ của “Nỗi lòng người đi”. Ca khúc Nỗi Lòng Người Đi đã trở thành một tuyệt phẩm trữ tình sống mãi cùng năm tháng và hầu hết những người yêu nhạc hơn nửa thế kỷ qua, ai cũng biết đây là 1 sáng tác của nhạc sĩ Anh Bằng. Tuy nhiên vài năm trước có một nhạc sĩ vô danh ở trong nước tự nhận ông mới thực sự là tác giả của bài hát. Thông tin này chỉ gây xôn xao một thời gian, cho đến nay thì hầu hết khán giả yêu nhạc xưa chỉ công nhận rằng tác giả của ca khúc lãng mạn này là Anh Bằng, dựa theo thông tin trên tờ nhạc được phát hành chính thức: Bài: Trương Đình TuấnBản quyền bài viết của nhacxua.vn Nhạc sĩ Anh Bằng là một trong những tên tuổi lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam với rất... Nàng Áo Tím là một ca khúc của nhạc sĩ Anh Bằng và không phải là quen thuộc với nhiều... Lúc sinh thời, cố nhạc sĩ Lê Dinh từng nói về người bạn thân thiết của mình là nhạc sĩ... Khúc Thụy Du là một trong những ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng sau năm 1975, được... Trước khi 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng hợp tác với nhau thành nhóm sáng tác... Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác ca khúc Căn Nhà Ngoại Ô năm 1966, lúc ông đã 40 tuổi và... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Phố biển

Lan Và Điệp là cái tên nổi tiếng trong làng nghệ thuật Việt Nam, bắt đầu từ tiểu thuyết mang tên Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan sáng tác năm 1933. Câu chuyện nói về mối tình lãng mạn, đầy trắc trở của cô gái tên Lan và chàng trai tên Điệp. Do mắc mưu của ông quan Phủ ở tỉnh lẻ, Điệp – học sinh nghèo – phải phụ tình vị hôn thê là Lan để cưới Thúy Liễu, con gái ông Phủ. Lan ôm mối tình tuyệt vọng bỏ nhà đến chùa để cắt tóc đi tu. Cao trào của câu chuyện khi Điệp tìm được ngôi chùa mà Lan đang tá túc, thì cũng đúng lúc nàng trút hơi thở cuối cùng. Tác phẩm “Tắt lửa lòng” nhanh chóng thu hút được sự chú ý của công chúng và được các nghệ sĩ chuyển thể ra nhiều hình thức khác nhau. Ngay từ năm 1936, soạn giả Trần Hữu Trang biên kịch lại Tắt Lửa Lòng và chuyển thể thành vở cải lương Hoa Rơi Cửa Phật năm 1936. Sau đó soạn giả Loan Thảo cũng chuyển thể thành vở mang tên Lan Và Điệp, và đây cũng là cái tên nổi tiếng nhất của câu chuyện Tắt Lửa Lòng. Năm 1964, bộ 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng sáng loạt loạt 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp và ăn khách chưa từng thấy, đến năm 1972 đạo diễn Lê Dân làm cuốn phim Lan Và Điệp với dàn diễn viên nổi tiếng, đều xuất phát từ sân khấu cải lương là Thanh Nga, Thanh Tú, Bạch Tuyết. Cái tên Lan Và Điệp dễ gợi nhớ và dễ gọi hơn cái tên gốc của tiểu thuyết, nên từ đó phổ biến rộng rãi trong công chúng. Tác giả Nguyễn Công Hoan kể lại trong hồi ký như sau: “Trong các truyện dài của mình, có truyện Tắt Lửa Lòng và Lá Ngọc Cành Vàng chuyển thể thành cải lương. Không biết ai chuyển thể vì không ai xin phép mình. Một lần, có gánh hát cải lương về Thái Bình. Họ quảng cáon diễn vở Tắt Lửa Lòng của Nguyễn Công Hoan. Có lẽ họ không biết mình ở đấy, hoặc biết mà cố tình lờ đi không nói với mình một tiếng, nên mình cáu lắm, mới tìm đến người chủ gánh hát và cấm diễn. Tối hôm ấy, họ không dám diễn vở Tắt Lửa Lòng. Nhưng vài tối sau thì mình thấy quảng cáo là vở Lan Và Điệp, không nói tên tác giả. Từ đó Tắt Lửa Lòng đổi thành Lan Và Điệp” Trở lại với tác phẩm chuyển thể đầu tiên của Tắt Lửa Lòng là vởcải lươngHoa Rơi Cửa Phật của soạn giả Trần Hữu Trang với sự trình diễn của nghệ sĩ Năm Phỉ, Tư Út. Tác giả Ngành Mai kể lại: Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan-Điệp trở thành bất tử với thời gian (nữ nghệ sĩ tài danh Năm Phỉ từng được huy chương của chính phủ Pháp, của Vua Miên, Quốc Vương Lào, và Hoàng Đế Bảo Đại). Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác. Năm 1948, hãng dĩa ASIA đã cho thu âm vở cải lương này vào 4 đĩa nhựa với tựa đề “Hoa rơi cửa Phật”, với sự tham gia của các danh ca Tư Sạng (Lan), Năm Nghĩa (Điệp), Tám Thưa (Hòa thượng), Hồng Châu (Tiểu Huệ Thông). Đĩa nhạc nhanh chóng phổ biến từ Nam chí Bắc, lan đến Cao Miên và Lào. Theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, kiều bào xứ Chùa Tháp tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp 3, 4 lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ. Click để nghe lại Hoa Rơi Cửa Phật thu âm năm 1948 Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lào và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương “Lan và Điệp” phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh. Năm 1970, khi phong trào kịch nói lớn mạnh, ban kịch Kim Cương đã trình diễnvở kịch nói “Lan và Điệp”,do chính nghệ sĩ Kim Cương thủ vai Lan (Kim Cương là cháu ruột của nghệ sĩ Năm Phỉ – người đầu tiên đóng vai Lan). Vở kịch này cũng thu hút được sự chú ý của khán giả không kém cải lương và nhanh chóng được phát trên truyền hình lúc đó. Cùng thời điểm này, kịch bản cải lương Chuyện tình Lan và Điệp của tác giả Loan Thảo với sự trợ giúp của soạn giả Thế Châu đã được thu thanh và trở thành bản ghi âm chuẩn mực nhất cho vở tuồng này tính đến hiện tại. Tham gia vở diễn là các giọng ca nổi tiếng như Chí Tâm (Điệp), Thanh Kim Huệ (Lan), Tú Trinh (Thúy Liễu), Hữu Phước (ông Tú – ba của Lan),… Nghe tuồng Lan Và Điệp thập niên 1970 Lan Và Điệp cũng đi vàotân nhạctừ năm 1964, trở thành bài hát đầu tiên mở màn thành công rực rỡ cho sự kiết hợp của bộ 3 nhạc sĩ Lê Minh Bằng. Vào khoảng năm 1964-1965, khi cái tên Lê Minh Bằng chưa được sử dụng thì 3 nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng đã thử nghiệm sáng tác cùng nhau, và 1 trong những ca khúc đầu tiên chính làChuyện Tình Lan Và Điệp 1(tên chính xác làTruyện Tình Lan Và Điệp – ca khúc 1)– Bài hát có doanh số bán nhạc tờ được hàng triệu bản, một kỷ lục vào thời đó. BàiTruyện Tình Lan Và Điệpđược ký tên sáng tác là Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh – một cái tên rất lạ, được nhạc sĩ Lê Dinh giải thích là một phần muốn gây sự chú ý đến công chúng, một phần là vì cả 3 không tự tin về sự thành công của một ca khúc “ăn theo” tuồng cải lương rất nổi tiếng thời ấy, nên không muốn lấy bút danh chính vì lỡ có ca khúc bị thất bại thì không bị ảnh hưởng đến danh tiếng nhiều năm của các nhạc sĩ. Trái ngược với sự lo sợ đó,Truyện Tình Lan Và Điệpcó được thành công chưa từng có, làm tiền đề để họ cùng sáng tác thêm Lan Và Điệp 2,3 – cũng đều rất ăn khách. Trong vài chục sáng tác nổi tiếng của nhóm Lê Minh Bằng, bộ 3 ca khúc Truyện Tình Lan Và Điệp vẫn là ăn khách và bán chạy nhất. Bài hát này được Nhật Trường và Hoàng Oanh thu thanh lần đầu trong dĩa nhựa và liên tục được phát trên đài phát thanh những năm giữa thập niên 1960. Khán giả yêu cầu phát thanh“Truyện Tình Lan và Điệp”hàng ngày, hàng tuần, liên tiếp trong nhiều tháng trời, tầng suất phát gấp chục lần các bài hát khác. Click để nghe Truyện Tình Lan Và Điệp (Nhật Trường – Hoàng Oanh) Các bản nhạc tờ của bài hát được in ra không đủ bán. Nhà in Tương Lai ở đường Trần Hưng Đạo có bao nhiêu máy in cũng được sử dụng để in “Truyện Tình Lan và Điệp 1″ (Sau đó là Lan và Điệp 2,3) ròng rã suốt ngày đêm, nhạc sĩ Lê Dinh phải xuống nhà in ngủ lại để giám sát việc in ấn, đề phòng nhà in cho in nhiều hơn số lượng đặt hàng để tuồn bán lậu. Tổng cộng là gần 4 triệu rưỡi bản nhạc (của 3 ca khúc) được in ra trong vòng hai năm. Mỗi bản nhạc được bán ra 5 đồng thì tổng thu về được gần 15 triệu đồng, sau khi đã trừ chi phí. Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Chúng tôi không bao giờ có thể ngờ được những bài như “Truyện Tình Lan và Điệp”, “Cô Hàng Xóm” và nhiều bài khác – cũng thuộc loại bài có lời ca hợp với đa số người bình dân – lại được phần đông mến chuộng. Bằng cớ là mỗi lần xuất bản đến 10.000 bài, chỉ trong vòng một tuần lễ là hết sạch. Các đại lý yêu cầu tái bản tới tấp, chúng tôi phải có mặt suốt đêm trong nhà in Tương Lai, đường Trần Hưng Đạo, để lo in cho kịp. Có nhiều bài có mức phát hành lên đến cả trăm ngàn bản. Chúng tôi đã đúc kết được điều quý giá, là muốn một bài nhạc được phổ thông và được chấp nhận thật sâu trong dân chúng, ngoài nét nhạc dễ thuộc, dễ nhớ… còn phải thật dễ thương. Nghĩa là âm điệu phải uyển chuyển, có hồn nhạc, thính giả dễ nhớ thoang thoáng âm điệu khi nghe qua lần đầu. Về phần lời ca, đừng quá giản dị (đại loại như “Ước gì mình đừng ngăn cách, nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay”), nhưng cũng đừng quá cầu kỳ, đừng bắt người ta nghe nhưng không hiểu gì hết…” Ngòi ra, Lan Và Điệp cũng được đưa lênmàn ảnh rộngnăm 1972, đó là cuốn phim mang tên Tình Lan Điệp của hãng Dạ Lý Hương Phim. Lời giới thiệu của phim được ghi như sau: Sau lần đầu tiên thành công vượt bực về phim Quái Đản “Con Ma Nhà Họ Hứa”, năm 1972 Dạ Lý Hương Phim long trọng trình chiếu một xuất phẩm giá trị Nghệ thuật và Kỹ thuật: Tình Lan Và Điệp. Phóng tác theo tiểu thuyết tình cảm bất hủ “Tắt Lửa Lòng” của cố văn sĩ lừng danh Nguyễn Công Hoan. Một bộ phim đen trắng 35mm “Tình Lan và Điệp”, dài 1 giờ 30 phút do đạo diễn Lê Dân thực hiện công phu và tốn kém nhất. Dàn cảnh vĩ đại với đền đài dinh thự, y trang cổ truyền thuần túy Việt Nam đúng theo nguyên tác “Tắt Lửa Lòng”. Phim có sự góp mặt của các diễn viên: Thanh Nga (vai Lan), Thanh Tú (Điệp), Bạch Tuyết (Thúy Liễu), Ba Vân (Ông Phủ), Ngọc Giàu (Bà Phủ), Năm Châu (Ông Giáo), Dũng Thanh Lâm (Cai Tư), Út Bạch Lan, Bé Bự, hai vua hề Tùng Lâm, Thanh Hoài, Phương Quang, Bảy Ngọc, Kiều Mai Lý, Tư Rợm… và trên 20 nghệ sĩ tên tuổi. Địa điểm quay nồng cốt là một ngôi chùa trên núi Bửu Long, đường cheo leo hiềm trở và chuyên viên phải dựng lên những chiếc lều cây khổng lồ để đặt máy lấy hình. Địa điểm kế là một ngôi nhà uy nghi rộng rãi và giàu sang, ngôi nhà đó là của ông Mười Công một nhân vật có tiếng vùng Nhà Bè, tại ngôi nhà này từng là nơi đoàn của Thẩm Thúy Hằng quay phim “Ngậm Ngùi”, đoàn Kim Cương quay phim “Mưa Trong Bình Minh”. Từ lĩnh vực cải lương, qua đến điện ảnh thì Thanh Nga vẫn tiếp tục được giao cho vai Lan – người sư nữ trẻ đẹp lòng còn vướng víu nợ trần ai. Ba Vân và Ngọc Giàu trong vai ông bà Phủ hóa trang theo lối xưa, đeo thật nhiều trang sức, bới tóc cổ điển, áo bà ba quần satin đen bóng loáng. Đặc biệt là cô dâu Bạch Tuyết trong vai Thúy Liễu con gái ông bà Phủ, mặc áo thụng lòe loẹt, tóc quấn với khăn vành và nón quai thao thật xưa, chân đi hài con rồng, dáng đi yểu điệu. Thanh Tú vai Điệp với áo dài khăn đóng màu đen. Đạo diễn Lê Dân đã có sáng kiến dựng lại một đám cưới xưa thật xưa và công phu nhất, một chiếc xe thổ mộ thật xưa kết đầy hoa lá xanh đỏ, một dây pháo dài 25 thước đã được đốt lên rộn rã trong ngày tân hôn. Câu chuyện nói về một thanh niên tên Điệp (Thanh Tú đóng), nhà nghèo, nhưng nhờ mẫu thân buôn tần bán tảo ngược xuôi, và nhờ một người bạn thân với cha chàng khi xưa là ông Giáo (Năm Châu) giúp đỡ nên chàng vẫn được tiếp tục theo đuổi việc học, lúc nào chàng cũng mong mình sớm thành đạt để có dịp đi làm, đền đáp lại công ơn của mẹ già. Ông Giáo có một người con gái tên Lan (Thanh Nga), đã cùng Điệp đính ước rằng sau này sẽ nên duyên vợ chồng. Chuyện tình của họ đã diễn ra thật thơ mộng êm đềm trong vòng lễ giáo và được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên. Kỳ thi đó Điệp đậu bằng Thành chung, chàng về quê báo tin mừng cho mẹ, ông Giáo và Lan hay. Chính vì chuyện thi cử này mà cuộc đời Điệp bắt đầu đã vào một khúc quanh mới với nhiều sóng gió. Quan Phủ sở tại (Ba Vân) có cô con gái là Thúy Liễu (Bạch Tuyết), vì mê đàn hát nên thất thân với Cai Tư (Dũng Thanh Lâm). Muốn cho gia đình khỏi mang tiếng xấu vì con gái chửa hoang, Quan Phủ đã cố tìm cách gài bẫy để bắt buộc Điệp phải nhận lời lấy Thúy Liễu về làm vợ. Một hôm Quan Phủ cho mời Điệp đến dùng cơm. Trong bữa tiệc, quan cố nài Điệp uống rượu thật say. Khi chàng quá chén không còn biết trời trăng gì nữa, Quan cho khiêng chàng vào nằm trên giường của Thúy Liễu. Sáng hôm sau Quan giả vờ làm dữ khi bắt gặp quả tang Điệp trong buồng của con gái mình. Dù biết mình bị gài bẫy, nhưng Điệp không có cách gì để chống lại ý muốn của Quan Phủ, chàng đành phải nhận lời lấy Thúy Liễu với cõi lòng tan nát khi nghĩ tới Lan. Một đám cưới đã được cử hành rấp rút và thật linh đình giữa chàng thư sinh tên Điệp và con gái Quan Phủ. Cũng chính trong ngày hôm đó, Lan đã âm thầm bỏ nhà tìm đến một ngôi chùa ở một miền hẻo lánh nọ để xin cắt tóc đi tu… Câu chuyện gốc trong tiểu thuyết Tắt Lửa Lòng: Truyện kể về cuộc tình lãng mạn, bi ai giữa chàng học trò nghèo tên Điệp và cô gái cùng quê tên Lan, tại làng Văn Ngoại, khu vực chợ Gỏi thuộc vùng Hải Dương xưa, thời kỳ Nguyễn Công Hoan đang dạy học ở đó. Vũ Khắc Điệp là con ông Cử làm nghề dạy học. Ông Cử kết giao với ông Tú, bố của Nguyễn Thị Lan và hai gia đình hứa gả con và kết tình thông gia với nhau. Khi ông Cử mất, mọi công việc lo toan cho Điệp học hành đều do ông Tú đảm nhiệm. Tình cảm hai nhà gắn bó keo sơn. Trần Thúy Liễu là con gái ông Phủ Trần, tính cách xấu xa, tinh nghịch, phải lòng và có bầu với Tư Kềnh, một lính khố xanh đóng gần nhà Thúy Liễu. Điệp sau khi thi lần đầu bằng Thành Chung bị trượt, đến khi thi lần hai thì gặp ông Phủ Trần là bạn học khi xưa với ông Cử – bố của Điệp, ông Phủ có hứa giúp đỡ Điệp đỗ kỳ thi này và còn tìm việc làm cho tại Phủ. Điệp ở nhà ông Phủ Trần và bị mắc lừa nằm ngủ với Thúy Liễu trong lúc say rượu, nên ông Phủ Trần tìm mọi cách ép Điệp cưới Thúy Liễu để tránh mọi dị nghị của xã hội và kiếm cho con mình một tấm chồng hợp pháp. Đồng thời ông Phủ Trần cũng đuổi mọi người làm việc ở Phủ để không ai còn biết Thúy Liễu có quan hệ trước đó với Tư Kềnh. Sau khi nhờ một ông chánh án Phủ Trần để giúp đỡ thi đậu thì Điệp mắc ơn ông Phủ Trần đó và bị ông ta dụ uống say và bỏ vào chung phòng với cô con gái mập và không được nết na lắm của ông ta tên là Thúy Liễu. Bị vu cho ngủ chung với Thúy Liễu, thế nên ép Điệp phải cưới cô ta. Gia đình Lan và Điệp hết sức buồn rầu vì việc này. Ngày Điệp cưới Thúy Liễu cũng là ngày Lan cắt tóc đi tu. Nhưng chỉ sau vài tháng thì cãi nhau và Điệp li dị với Thúy Liễu. Rồi Điệp đi tìm đến ngôi chùa nơi Lan tu và giật chuông nhưng Lan không những không tiếp mà còn cắt dây chuông. Vậy nên Điệp thất vọng đi luôn, và muốn gầy dựng cơ nghiệp trước rồi quay lại chuyện nhân duyên sau. Sau đó Thúy Liễu lấy chồng khác là Hoàng Xuân Long – một ông quan Phủ và có 3 đứa con, có một người tên là Hoàng Trần Vũ cùng họ với Vũ Khắc Điệp. 13 năm sau, cha mẹ của Lan, Điệp và Thúy Liễu đều mất. Người con tên Vũ bị đối xử lạnh nhạt, cả gia đình không yêu thương và cả mẹ và cha nuôi cũng ghẻ lạnh. Vũ biết Điệp là chồng trước của mẹ mình và khi cha nuôi hắt hủi đưa địa chỉ thì Vũ đến tìm Điệp. Điệp kể lại sự oan trái của cả hai và đưa địa chỉ của cha đẻ cho Vũ. Vũ đi tìm cha và biết được sự thật rằng ngày ấy Thúy Liễu đã quyến rũ người canh gác tên Cách này, và khi sinh ra Vũ bị Thúy Liễu bóp cổ nhưng Vũ vẫn không chết. Vũ quay về bệnh viện nơi Điệp làm việc và định gửi hai hộp kẹo có thuốc độc cho ba và mẹ mình nhưng bị Điệp biết nên tráo lại. Cũng vào ngày đó, Điệp nhận được một bệnh nhân sắp chết là Lan. Điệp khi đó mới biết rằng, Lan vì quá buồn nên không đọc thư của Điệp và ôm hận một mình trong lòng mà gây bệnh. Đông Kha – nhacxua.vn Ngày 22/8/2024, khi ở tuổi 61, Trường Vũ - ca sĩ nổi tiếng với các ca khúc "Thân phận nghèo",... Giai điệu Bolero, với xuất xứ từ các thể loại nhạc như Rumba, Habanera, Valse và Tango, đã du nhập... Việc tặng bông trong các buổi đờn ca tài tử đã trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần... Trong bài hát "Chiều Trên Phá Tam Giang" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh có câu: "Giờ này Thương Xá... Trong những thập niên 1950, 1960 và 1970, hình ảnh những chiếc taxi hai màu xanh - trắng (hoặc vàng... Những ai từng học ở trường Đại học Văn Khoa xưa, nay là trường Đại học Khoa học Xã hội... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tàn phai

Phạm Mạnh Cương là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của làng nhạc miền Nam trước 1975. Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực sáng tác, người nhạc sĩ đồng thời là giáo sư môn triết này còn rất thành công trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền thanh, truyền hình và băng nhạc. Những ca khúc được yêu thích nhất của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương làThương Hoài Ngàn Năm, Thu Ca, Thung Lũng Hồng, Thế Rồi Một Mùa Hè…và một ca khúc có tựa đề rất thi vị, đó làTóc Em Chưa Úa Nắng Hè. Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương tiết lộ rằng ông sáng tác ca khúc này vào khoảng năm 1962 trong một lần đi nghỉ hè ở phố biển Nha Trang, và tựa đề bài hát này được ông mượn từ tên một phim điện ảnh nổi tiếng của Thụy Điển từ 10 năm trước đó. Tên gốc của phim là “Hon dansade en sommar”, dịch ra tiếng Việt là “Nàng chỉ khiêu vũ một mùa hè thôi”, đầu thập niên 1950 đã từng được công chiếu ở Hà Nội tại rạp Ciro’s (nay là rạp Kim Đồng) với tên tiếng Việt là“Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè”. Lúc đó phim đã bị nhầm là có xuất xứ từ Na Uy, cũng là một nước Bắc Âu như Thụy Điển. Khi được công chiếu ở Hà Nội, cuốn phim này đã thu hút sự quan tâm rất lớn từ tầng lớp trí thức, trong đó có nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, lúc đó đang là một chàng sinh viên Huế ra Hà Nội trọ học. Ông đã ghi cảm tưởng của mình về phim này như sau (xin giữ nguyên câu chữ thời ấy): “Một chuyện tình bên hồ, trong ánh-sáng lung-linh hớn-hở, để tắt trong mây thu, của đôi thanh-niên thiếu-nữ băng khỏi thời-gian sống trong cung đàn âu-yếm để tỉnh giấc trong tục-lụy và nàng xa cõi thế. Một tác-phẩm Na-uy rất trẻ-trung tươi-sáng trong nền tư-tưởng quốc-tế, đánh dấu một nghệ-thuật đã từng làm súc-cảm bao tấm lòng cằn-cỗi. Một bản nhạc, một lời du, một áng mây, một bài thơ: Tóc em chưa úa nắng hè – Elle n’a dansé qu’un seul été. Kiệt tác-phẩm Na-uy, giải thưởng quốc-tế 1950 về cốt truyện. Với Ulla Jacobsson, Folke Sundquist…” Vào một mùa hè ấm áp của 10 năm sau đó, một hôm nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương lang thang trên biển Nha Trang, tình cờ ông nhìn thấy bóng dáng của giai nhân đang dạo bước một mình trên biển vắng trong buổi chiều chạng vạng. Ánh hoàng hôn chao nghiêng trên làn tóc, làm hong vàng mái tóc thề của người thiếu nữ. Trong đầu nhạc sĩ bỗng nhớ về cuốn phim năm xưa, cộng hưởng với việc được nhìn thấy một hình tượng gợi nhiều xúc cảm, ông có cảm hứng để sáng tác một ca khúc có cùng tên với cuốn phim năm xưa:Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè,với hình ảnh rất đẹp của người thiếu nữ: Em, tóc em hong vàngBiển chiều ru nắngÊm bước hoàng hôn… Click để nghe Anh Khoa hát (thu âm trước 75) Tuy nhiên, nếu chỉ có cảnh biển và hình bóng của một giai nhân thôi thì chưa đủ nội dung để sáng tác thành một ca khúc trọn vẹn. Khi bắt đầu sáng tác, nhạc sĩ đã nhớ lại nội dung cuốn phim đã xem năm xưa và thấy nó khá tương đồng với nội dung một tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Khái Hưng làTrống Mái(xuất bản năm 1936). Cả 2 đều nói về cuộc tình của một người ở thành phố với một người nơi thôn dã. Trong tiểu thuyết Khái Hưng, cô gái tên Hiền là một người thuộc giai cấp quý tộc, thông minh tinh tế, lại có lòng tử tế và cảm thông đối với người khốn khó, không phân biệt giai cấp – vốn là một căn bệnh của xã hội thời điểm đó. Trong một lần về chơi biển Sầm Sơn, Hiền gặp một thanh niên đánh cá làng chài tên là Vọi, là người ít học, chất phát, nhưng đẹp trai và lực lưỡng như một lực sĩ. Hiền cảm mến chàng trai thật thà, chất phác. Nhưng đó không hẳn là tình yêu. Chỉ vì Hiền có được những cảm xúc tự do, thoải mái khi đi bên cạnh một anh chàng vừa đẹp trai vừa lại khù khờ dễ bảo, giúp cô quên đi cuộc sống có phần giả tạo nơi thành phố bon chen. Sau một buổi yến tiệc ở nhà Hiền với sự tham gia của rất nhiều bạn bè từ thành phố về, những cảm xúc đẹp đẽ của Hiền đối với anh Vọi dần tan biến. Vọi là một người của thôn quê, giống như là con chim tự do bay nhảy giữa đất trời, nay như là bị nhốt vào lồng khi tham gia một bữa tiệc toàn là quý tộc trưởng giả với phong cách hoàn toàn xa lạ. Anh lóng ngóng, đau khổ và vụng về, không biết làm gì giữa những con người và không gian quý tộc như vậy. Hiền chợt hiểu ra và trở về đúng với vị trí, giai tầng của cô. Nhưng cái ngọt ngào như là hương vị của tình yêu mà cô đã gieo vào lòng Vọi, vào cuộc đời Vọi, thì còn tồn tại và sống mãi. Nó sống động và gây tương tư, thổn thức trong trái tim Vọi, trong tâm hồn Vọi, ngay cả khi Vọi không biết và không giải thích được tình yêu là gì. Từ chuyện tình giai cấp đó, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã cảm tác và viết thành một ca khúc nói về chuyện tình miền biển rất nhẹ nhàng và êm đềm, rồi những chia ly cũng được mô tả nhẹ nhàng, thổn thức như những triền sóng miên man. Không tập trung vào câu chuyện giai cấp rối rắm như trong tiểu thuyết, bài hát chỉ nói về thời điểm kết thúc câu chuyện, mô tả hình bóng lẻ loi của đôi người còn in dấu trên miền biển vắng khi chuyện tình đã hết, nắng hạ đã tàn phai. Rồi nắng hạ tàn phaiCơn mê tình áiRã rời lạc lối Theo dấu chân em vềChập chùng lớp sóng.Trắng xóa mênh mông. Cuộc tình đến và đi đều nhanh như một cơn lốc. Với cô gái tên Hiền trong truyện Khái Hưng thì đó chỉ là một trải nghiệm trong đời sống. Nhưng với anh chàng Vọi, thì dù ngắn ngủi, nhưng những gì đã qua đã để lại cho anh một cơn bão lòng. Anh không thể nào quên được những đêm cùng nhau ngắm cảnh trăng lên gió thổi trên hòn Trống Mái, những buổi cùng ở trong vườn xem đôi bướm đuổi nhau với cái nhìn và nụ cười tuyệt đẹp của Hiền, và những lúc chỉ có hai ở ngoài biển khơi xa vắng, những ngụm nước dừa có mùi son phấn của làn môi. Tất cả điều đó đều làm cho anh như là bị chìm đắm trong men say yêu đương tình ái. Click để nghe Sĩ Phú hát Tóc Em Chưa Úa Nắng Hè trước 1975 Em buông lơi tóc thềTỉnh mê theo cơn lốc vềEm như mưa nắng hạHôn bờ biển xanh sỏi đá. Anh lang thang dấu giầyVòng tay em cho đã gầyMen yêu đương rũ rượiMây trời phong kín trùng khơi. Những gì người ta cảm nhận được khi nghe ca khúcTóc Em Chưa Úa Nắng Hèlà nỗi buồn man mác, những tiếc nuối tưởng là nhẹ nhàng thoảng qua, nhưng đó như là một vực sâu ngậm ngùi sau những rũ rượi yêu đương: Rồi cánh phượng hồng rơiChơi vơi ngàn lối.Mỏi đường tình ái Con sóng khuya xô vềNgậm ngùi sỏi đáNuối tiếc trôi qua Còn dấu buồn hồn hoangNghiêng nghiêng vực nhớMưa chiều lạnh giá, Em tóc em hong vàngHạ buồn chiều úaEm khóc chiều xưa. Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn Với những người thích nghe nhạc thu âm từ trước năm 1975, chắc chắn sẽ biết đến loạt băng nhạc... Trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam, có một câu ca dao nói về tình yêu thắm thiết... Trong thể loại nhạc trữ tình Việt Nam, có 2 ca khúc có tựa đề gần giống nhau của 2... Trong cuộc đời và sự nghiệp có rất nhiều đóng góp cho nền âm nhạc miền Nam của nhạc sĩ... Xứ Huế là một trong những nôi phát triển rực rỡ của tân nhạc Việt Nam thời kỳ thập niên... Trong một chiều thu như bao chiều thu cũ, một người trai lữ khách đang lãng du một mình trong... © 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

Tuyệt Phẩm Thơ Phổ Nhạc

Xem tất cả

Kho Tàng Lưu Trữ

Tác phẩm tiêu biểu

Xem tất cả
Featured Story

Diễm xưa

Tổng quan “Diễm xưa” là tình khúc tiền chiến diễm lệ và nổi tiếng nhất của Trịnh Công Sơn, sáng tác năm 1960 tại cố đô Huế. Tác phẩm lấy cảm hứng từ...

Bài viết nổi bật
Mới cập nhật

Bao Giờ

Tác phẩm mới được tổng hợp và đưa vào hệ thống.

Tác phẩm
Mới cập nhật

Ba Mươi Năm

Tác phẩm mới được cập nhật vào kho lưu trữ kỹ thuật số.

Tác phẩm

Góc Kiến Thức

Ngày này năm xưa

Tháng 5 năm 2014: Hiện tượng "Chắc ai đó sẽ về" làm khuynh đảo các bảng xếp hạng V-Pop, đồng thời mở ra cuộc tranh luận lớn nhất về vấn đề bản quyền trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Bạn có biết?

Bức Tường là ban nhạc rock đầu tiên của Việt Nam có tour diễn xuyên Việt và từng được nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Kỷ lục Âm nhạc

  • 🏆 Nghệ sĩ nam có nhiều MV trăm triệu view nhất: Sơn Tùng M-TP
  • 🏆 Cống hiến nhiều nhất: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Kết nối nghệ sĩ & Tác phẩm

NETWORK HIGHLIGHT

Làn Sóng Xanh Era

Khám phá mạng lưới kết nối giữa các nhạc sĩ và ca sĩ định hình âm nhạc đại chúng Việt Nam những năm 1990-2000.

Khám phá bản đồ
Bộ sưu tập

Giai Thoại & Câu Chuyện

Những câu chuyện thâm cung bí sử, hoàn cảnh sáng tác phía sau những bài hát bất hủ.

Bộ sưu tập

Thơ Phổ Nhạc

Sự giao thoa tuyệt đẹp giữa thi ca và âm nhạc. Những bài thơ được chắp cánh bởi giai điệu.

Vintage sheet music and instruments
Bộ sưu tập đặc biệt

Giai đoạn vàng trước 1975

Một góc nhìn sâu sắc về các trào lưu âm nhạc đa dạng đã nảy nở tại Sài Gòn.