Tác phẩm nghệ thuật

Nhạc sĩ Lê Thương kể về hoàn cảnh sáng tác trường ca Hòn Vọng Phu

Một sáng tác của Nhạc sĩ Lê Thương

✨ Giai thoại & Hoàn cảnh sáng tác

Hòn Vọng Phu là bài trường ca nổi tiếng nhất của tân nhạc Việt Nam, mượn âm nhạc và mượn câu chuyện dân gian nổi tiếng để viết lên hoàn cảnh đất nước vào thời loạn lạc.

Lâu nay, có nhiều bài viết nói về hoàn cảnh sáng tác của bài trường ca bất tử này, nhưng tất cả đó đều không thể chân thật bằng lời kể của chính tác giả Hòn Vọng Phu là nhạc sĩ Lê Thương dưới đây, thông qua một lá thư tay được ông gửi cho bằng hữu ở Làng Mainăm 1987. Trong thư này, Lê Thương kể về bối cảnh của đất nước lúc đó và niềm cảm hứng để ông hoàn thành bộ kiệt tác này.

Cách đây 43 năm (1944-45), tại xứ Dừa tỉnh Kiến Hòa, lúc đó còn là cù lao An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, tình trạng dao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 1940 rồi tràn vào Hải Phòng Hà Nội, tôi vào nam 1941), hòa nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi 3 bài Hòn Vọng Phu thành một truyền kỳ cảm động.

Năm đó tôi tự cho là một kẻ phiêu lạc, đã từng ghé bến Quảng Châu – Trung Hoa 4 tháng – ghi xong hơn 384 trang nhật ký, tiếc rằng nay đã mất hết ở Trà Vinh năm 1945 – mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người, nên tôi gởi thác tâm tình vào để tài dân tộc làTích Người Đàn Bà Hóa Đá.

Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn

Tất cả luân lý Đông phương hầu như căn cứ trên lẽ tiết trung của Con Người các thế hệ, các giai cấp trong một nhân sinh quan sâu đậm Tình và Nghĩa.

Người Mẹ ôm con đợi chồng rồi hóa đá quả là một truyện ly kỳ tuyệt đẹp. Thành đá đây là thành“chứng quả tình thâm, tình vợ chồng chưa toại lòng nhau đã cách biệt. Tình cha con chưa từng ôm ấp đã chia ly, tình đồng loại chưa sum vầy đã tan rã”.

Nước ta có 3 đá Vọng Phu: một ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị như trong câu “Đồng đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, hai là ở Phú Yên (nam trung việt ) có núi Vọng Phu, vùng Đèo Cả (tỉnh Phú Khánh), ba là ở Hà Tiên, có Vọng phu Thạch.

Núi Vọng phu ở Phú Yên tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u là đá đẹp nhất, xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến.

Hòn Vọng Phu ở Phú Yên

…Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có “thạch bi sơn” làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại… Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm: “Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp ổ Gà, Ma Hòn Lớn”

Lời sơ giải của dân gian kể là: Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo, thường có mây dày đặc chỉ cần gọi nhau trên đó là có mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó)

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u. Đó là Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa.

Cọp thời xưa dạn dĩ đến nỗi sau những trận mưa chúng ra đường lộ phơi nắng cho khô, bộ áo rằn ri, xe hơi thời đó bóp kèn năn nỉ chúng cũng không thèm nhúc nhích (xe thời đầu Pháp thuộc có mui dựng lên để hai bên hông trống rỗng) nên xe phải dừng lại cho mấy “ông ba mươi” đi hết mới chạy qua, vừa lên tốc độ chối chết vừa la như giặc.

Còn Hòn Lớn thì nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma hồi” đêm cứ lập lòe nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm!

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bàiHòn Vọng Phu 1.

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn…..(Hòn Vọng Phu 1)

(Bài này đã xong và đưa anh Lưu Hữu Phước trước ngày 23/9/45 để anh đem ra Bắc)

BàiAi xuôi vạn lý ( Hòn Vọng Phu 2)là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn Ca Nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêngHòn Vọng Phu 1nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hòa, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hòa, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại…

Bỗng Tây đem tàu tấn công 3 Cù Lao, Minh, Bảo, An Hóa. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn Ánh (nay đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được vài gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh Tư – bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá dòng Sầm dày 4,5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặt lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuin”(tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh man như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kao-lo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bàiHòn Vọng Phu 2, tức Ai Xuôi Vạn Lý, được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.

Ngày chót ở Dòng Sầm là ngày đại bố của tên Leroy. Hắn nghe tin có người lạ mặt trốn trong lá (vì có tên lính kín của hắn trà trộn trong đám người đi chặt lá bất ngờ gặp 2 chúng tôi).

Tên này giả đò thương hai chúng tôi, hỏi vu vơ vài câu rồi ra lộ làng. Anh Tư người che chở chúng tôi thấy nó chạy vội xuống Bình Đại, anh hốt hoảng vào kêu chúng tôi thu xếp túi áo quần, xóa vết củi than rồi tìm chỗ trốn càng sâu càng tốt – như ráng chui dưới đống lá mới chặt kẻo vào bụi rậm thì dễ bị chúng bắn bừa vào cho chết.

Cả một ngày khủng khiếp tột độ kéo dài cho đến gần tối đêm, chúng tôi mới dám lần về nhà anh Tư, hỏi thăm nơi nào còn trốn được nữa. Anh dẫn đến nhà người bề trên trong dòng họ và cả trong đạo, năn nỉ xin giúp. Ông này chỉ lối cho chúng tôi ra một tha ma nhỏ có một mộ đào sẵn nhưng chưa chôn – Lấy rơm nơi gần đó trải đầy xuống đáy mộ, chúng tôi đành xuống đó nằm nghĩ qua đêm, yên lặng trong ngôi mộ như chờ lấp đất.

Vòm trời sao hình chữ nhật tỏa xuống hai thằng người nửa sống nửa chết, tuy chưa chôn nhưng đang phó thác tâm hồn cho thượng đế với hai cái xác còn đầy sức sống cầu mong được thoát nạn. Sáng hôm sau lời nguyện đã được nghe từ thiên cao: Một em trong đoàn hát tìm được chúng tôi và dẫn qua đường làng đến Vang Quới, xuống đó may về được Mỹ Tho để ngồi tù… Rồi thoát nạn.

Saigon cuối 1947.Hòn Vọng Phu 2với nỗi lòng “người Vọng Phu” (qua) lúc gió mưa thành hình, và nội trong năm 1948, nỗi lòng ấy vang dội trên các sân khấu Sài Thành với giọng ca điêu luyện của nhiều nam nữ ca sĩ, trong đó có Ánh Mai, sau này thành vợ cũ của Huỳnh Văn Tiểng và vài người đẹp đã quên tên.

Sống lại với nền tân nhạc giữa thời “khai sơn phá thạch”, tôi không ngớt theo đuổi ý chí kể lại khúc chót của chuyện tích này, mặc dù đang mắc kẹt với bao sáng tác của năm 1948, là một năm khởi sắc với 6 bài nhạc thời sự (Hòa Bình 48, Báo Thương, Liều Thuốc Độc Lập, Dao ca, Tạp khúc ca, kịch ngắn…), thâu âm đĩa hát, tìm nhà ở, tìm chỗ dạy học lại…

Người Chinh Phu Trở Về (Hòn Vọng Phu 3)với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà.“Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt.

Mỗi năm, gần đến rằm tháng tám, chắc là nhiều người sẽ nhớ về tuổi thơ mầu nhiệm của mình...

Nếu nhắc về những nhạc sĩ tiên phong có đóng góp nhiều nhất cho sự hình thành của tân nhạc...

Hầu hết thế hệ học sinh thời thập niên 1960 đến năm 1975, có lẽ là không ai mà không...

Hòn Vọng Phu 3, còn có tên khác là Người Chinh Phu Về, mô tả sự trở về của người...

Sau bài viết phân tích và giải thích ý nghĩa trường ca Hòn Vọng Phu phần 1 đã đăng trước...

Lê Thương là một trong những nhạc sĩ tiên phong của phong trào tân nhạc tại Việt Nam vào những...

© 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

📝Tổng quan

Tổng quan

"Hòn Vọng Phu" là một trong những trường ca nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất của tân nhạc Việt Nam, được nhạc sĩ Lê Thương sáng tác thành ba phần trong giai đoạn từ khoảng 1944 đến 1948. Tác phẩm này đã đưa tên tuổi của Lê Thương lên một vị trí "độc nhất vô nhị" nhờ sự kết hợp tài tình giữa âm điệu Đông phương và Tây phương, cùng với việc mượn câu chuyện dân gian để khắc họa bối cảnh đất nước thời loạn lạc. Phần hai của trường ca từng được Ánh Mai, vợ cũ của Huỳnh Văn Tiểng, và nhiều ca sĩ khác thể hiện thành công trên sân khấu Sài Gòn vào cuối thập niên 1940.

🎨Nội dung nghệ thuật

Đặc điểm âm nhạc và Lời ca

"Hòn Vọng Phu" được đánh giá là một tác phẩm điển hình cho sự sáng tạo của Lê Thương trong việc "kết hợp âm điệu và kỹ thuật của hai nền âm nhạc Đông phương và Tây phương". Âm nhạc của trường ca thấm đẫm chất tự sự, mang hơi hướng bi hùng, thể hiện rõ nỗi lòng chinh phu và tâm trạng của người dân trong thời loạn lạc. Lời ca sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, tái hiện chi tiết bối cảnh thiên nhiên khắc nghiệt của vùng Đèo Cả và nỗi lòng sầu muộn của người chinh phụ, đồng thời lồng ghép thông điệp về tình yêu nước, tình nghĩa non sông. Các đoạn trích như "Lệnh vua hành quân trống kêu dồn" (Hòn Vọng Phu 1), "Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly." (Hòn Vọng Phu 2), và "Trao nó đi gây lại cơ đồ" (Hòn Vọng Phu 3) đã trở thành những câu hát kinh điển, thể hiện rõ tư tưởng và cảm xúc mà nhạc sĩ muốn truyền tải.

🎤Các phiên bản nổi bật

Các phiên bản và Dấu ấn

Trường ca "Hòn Vọng Phu" được chia thành ba phần rõ rệt: "Hòn Vọng Phu 1", "Hòn Vọng Phu 2 (Ai Xuôi Vạn Lý)", và "Hòn Vọng Phu 3 (Người Chinh Phu Trở Về)". Mỗi phần kể một đoạn trong câu chuyện, nhưng cùng góp phần tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về tình cảnh đất nước và con người Việt Nam thời chiến.

Tác phẩm đã trở thành "bài trường ca nổi tiếng nhất của tân nhạc Việt Nam" và được coi là "bài trường ca bất tử". Sau khi hoàn thành, "Hòn Vọng Phu 2" đã "vang dội trên các sân khấu Sài Thành" vào cuối năm 1947 và 1948, với sự trình bày của nhiều nam nữ ca sĩ tài năng. Sự phổ biến của trường ca lan rộng đến mức "hầu hết thế hệ học sinh thời thập niên 1960 đến năm 1975, có lẽ là không ai mà không" biết đến. "Hòn Vọng Phu" không chỉ là một tác phẩm âm nhạc mà còn là một phần di sản văn hóa, được nhiều bài viết phân tích và giải thích ý nghĩa, khẳng định vị trí của Lê Thương là một trong những nhạc sĩ tiên phong có đóng góp to lớn cho sự hình thành và phát triển của tân nhạc Việt Nam.

🌟Ý nghĩa & Tầm ảnh hưởng

Hoàn cảnh sáng tác

Hoàn cảnh ra đời của trường ca "Hòn Vọng Phu" được chính nhạc sĩ Lê Thương kể lại qua một lá thư tay gửi cho bằng hữu vào năm 1987. Ông cho biết, vào khoảng năm 1944-1945, tại xứ Dừa tỉnh Kiến Hòa (lúc đó là cù lao An Hóa, tỉnh Mỹ Tho), tâm hồn ông chất chứa ưu tư về thời cuộc đất nước đang loạn lạc (Nhật chiếm Lạng Sơn năm 1940 rồi tràn vào Hải Phòng, Hà Nội, ông vào Nam năm 1941). Nỗi lòng chinh phu trong văn thơ và mối tình non nước xao xuyến đã thôi thúc ông gửi gắm tâm tình vào đề tài dân tộc: Tích Người Đàn Bà Hóa Đá.

Lê Thương chia sẻ rằng ông tìm thấy cảm hứng sâu sắc từ hình ảnh Người Mẹ ôm con đợi chồng rồi hóa đá, một câu chuyện ly kỳ tuyệt đẹp thể hiện lẽ "tiết trung" và "tình nghĩa" sâu đậm của luân lý Đông phương. Việt Nam có ba địa danh liên quan đến đá Vọng Phu: ở Lạng Sơn (nàng Tô Thị), ở Phú Yên (vùng Đèo Cả), và ở Hà Tiên. Trong đó, núi Vọng Phu ở Phú Yên, với cảnh trí hơi man rợ, thâm u, và những câu vè dân gian huyền bí ("Mưa Đồng Cộ, Gió Tu Hoa, Cọp ổ Gà, Ma Hòn Lớn"), đã tạo ấn tượng mạnh mẽ nhất cho ông.

Hòn Vọng Phu 1 ("Lệnh vua hành quân trống kêu dồn"): Được sáng tác bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre) vào khoảng năm 1944-1945. Bài này đã hoàn thành và được nhạc sĩ Lưu Hữu Phước mang ra Bắc trước ngày 23/9/1945.

Hòn Vọng Phu 2 ("Ai Xuôi Vạn Lý"): Được viết vào cuối năm 1945 sang 1946. Khi đó, Lê Thương theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho, làm trưởng đoàn Ca Nhạc. Trong bối cảnh quân Pháp tấn công ba cù lao Minh, Bảo, An Hóa, đoàn kháng chiến tan rã. Ông cùng một người bạn tên Ánh phải trốn trong vùng lá Dòng Sầm (Bình Đại). Trong tình cảnh hiểm nguy, cô đơn đến mức phải trốn trong một ngôi mộ đào sẵn chưa chôn, với một cây viết máy khô mực và nỗi lòng vô vọng, ông đã viết nên những ô nhịp và lời ca của "Ai Xuôi Vạn Lý". Bài hát này hoàn thành ở Sài Gòn vào cuối năm 1947 sau khi ông thoát nạn và trở về.

Hòn Vọng Phu 3 ("Người Chinh Phu Trở Về"): Hoàn thành trong năm 1948 tại Sài Gòn. Mặc dù bận rộn với nhiều sáng tác khác và công việc đời thường, Lê Thương vẫn không ngừng theo đuổi ý chí kể nốt khúc chót của câu chuyện. Phần này thể hiện sự chuyển đổi từ tình nghĩa vợ chồng sang tình nghĩa non sông, với hình ảnh người cha trao cho con thanh kiếm sơn hà và ước vọng "Trao nó đi gây lại cơ đồ", thể hiện niềm tin vào mục tiêu hạnh phúc lâu dài của dân tộc.

⚖️Bản quyền & Pháp lý

Tình trạng pháp lý và Bản quyền

Đang cập nhật.