Tác phẩm nghệ thuật

Bên Ni Bên Nớ

Một sáng tác của Nhạc sĩ Phạm Duy

✨ Giai thoại & Hoàn cảnh sáng tác

Bên Ni Bên Nớ– Nhạc của Phạm Duy, thơ Cung Trầm Tưởng, có thể là một ca khúc tương đối lạ và không dễ thưởng thức đối với nhiều người, nhưng với tôi thì đây là một ca khúc đặc biệt, là một bức tranh màu xám đầy tương phản của đô thành Sài Gòn trong những năm thập niên 1950.

Ca khúc này mang đầy chất liêu trai, lời nhạc mông lung nhưng có thể làm ám ảnh người nghe, nội dung bài hát bày ra hai cảnh đời mâu thuẫn, nhưng cũng từ đó đã đề cao tình nhân ái, tinh thần tích cực và an vui hạnh phúc của con người dù có phải ở vào cảnh nghèo túng.

Click để nghe Khánh Ly hát Bên Ni Bên Nớ

Nguyên tác bài thơ mang tênTương Phảncủa thi sĩ Cung Trầm Tưởng, ông sáng tác bài này khi mới 18 tuổi và đang sống ở vùng Dakao, khi ấy vẫn là một vùng ngoại thành tối tăm, hoang vắng và xơ xác. Dakao ngày ấy đã được nhạc sĩ Lam Phương mô tả là một xóm nghèo“lầy lội qua muôn lối quanh”và“gập ghềnh đường đê tối tăm”như trong bài hátKiếp Nghèo, hay là“vàng ánh điện câu”với hắt hiu mái lá vách phên như trong bàiXóm Đêmcủa nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Một đêm, từ vùng ngoại ô nhìn về phía đô thành với đèn hoa rực rỡ, thi sĩ Cung Trầm Tưởng nhìn thấy rõ một bức tranh tương phản, giữa một bên là đô thành tráng lệ, một bên là hoang liêu như một bãi tha ma.

Từ bài thơTương Phản, nhạc sĩ Phạm Duy viết thành ca khúc mang tênBên Ni Bên Nớvới ca từ khá sát với lời thơ gốc,.

Hãy cùng đi vào chi tiết từng lời hát:

Đêm chớm ngày tàn,theo tiếng xe về,lăn về viễn phố

Em hỡi sương rơi,ngoài song đêm hạ,ôi buồn phố xá

Hoang liêu về chết tha ma,tiếng chân gõ guốc xa xaNgười xa vắng người,người xa vắng người…

“Đêm chớm ngày tàn” thể hiện một bức tranh động, mơ hồ, ở đó có thể nghe cả tiếng xe hối hả về viễn phố cuối ngày. Rồi sương rơi, đêm xuống, bên cạnh những bãi đất dài hoang vu tối tăm và nghĩa trang buồn ở nơi xa ánh đèn phố thị này, chợt nghe tiếng gõ guốc xa xa dồn giã, như là thanh âm của sự sống, là chút giao cảm của đồng loại, là sợi dây mỏng manh và yếu ớt kết nối giữa hoang liêu bãi tha ma hãi hùng này với những những rộn ràng của đô thành rực rỡ.

“Người xa vắng người”là để diễn tả những linh cảm của nhà thơ về sự phân hóa của những người trong xã hội đang chớm hình thành. Đó là phân ly giữa người giàu và người nghèo, người sống và người chết…

Sự tương phản đó được mô tả rõ nét hơn ở đoạn sau:

Em có nghe dồn giãbước ai vất vảbóng ai chập chờn?

Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúngEm có nghe bi ai tình ai ấp úngThương ai lạc loàiăn mày xán lạn ngày mai…

Hình dáng kẻ ăn mày chập chờn trong đêm tối, như là một bóng ma vật vờ trên lối nhỏ, lên tiếng ấp úng và van xin chút tình thương, lời cầu xin đó bi ai như tiếng của oan hồn. Đó là những hình ảnh ở nơi tối tăm, nghèo nàn nhưng đầy ắp lòng thương cảm ở “bên ni”. Tương phản với “bên nớ”, dù có những truy hoan dài theo chuỗi cười vô tận, nhưng đó là chuỗi cười theo “vạn mảnh ly tan”:

Đêm ni ai say đất lở, em ơi có nghe rạn vỡVạn mảnh ly tan theo chuỗi cười…Bên tê thành phố tráng lệGiai nhân nằm khoe lõa thểBên ni phố vắng ôi lòng ngoại ô

Có những sự tương phản ngay cả bên trong vẻ bề ngoài tráng lệ của bên tê, đó là của những trơ trẽn giai nhân khoe lõa thể, những truy hoan lạc bước, và nhìn lại “bên ni phố vắng” thì chỉ thấy một nỗi ngậm ngùi ngân dài…

Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp bước ai giang hồ?Hẹn ai bên ni dài in ngõ cũEm có nghe bên ni lạnh như bên nớ?Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong…

Hai tâm linh giam kín lạiBấm đốt ngón tay chờ đợiChờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời

Em ơi ngoài kia liếp ngõSương rơi ngoài song khép hởBên trong kín gió ấm ơi là tình.

Đoạn cuối của bài hát được nhạc sĩ Phạm Duy “rút gọn” câu chữ cho hợp với nhạc nên ý nghĩa không được thông suốt, thành như là bức tranh trừu tượng, ẩn hiện một cách mơ hồ.

Xin chép lại đoạn cuối của nguyên tác từ bài thơ:

Em có nghe mơ hồBước ai thao thứcGõ nhịp hẹn hòIn dài ngõ cụt

Bóng ai giang hồBên nớ bên ni đêm lạnh cảLạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng

Em ơi bên trongDù chia ly đôi phútĐồng mang nhớ đèo mong

Hai tâm hồn giam kínBốn mắt xanh bịn rịnAnh ngồi làm thơAnh ngồi bấm đốt con thơ ra đời

Bên ngoài liếp ngõ sương rơiBên trong kín gió ấm ơi là tình…

Ở đoạn này, vẫn là tương phản với những ly tan của “bên nớ”, ở bên ni có những người nghèo khó, thiếu thốn, mà về tình cảm với nhau thì luôn luôn tràn đầy. Đêm khuya gió lạnh từng cơn, dù là bên ni hay bên nớ cũng đều lạnh cả, nhưng ở bên ni thì “Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng”,và dù “bên ngoài liếp ngỏ sương rơi”thì bên trong vẫn“kín gió ấm ơi là tình”…

Hình tượng “bấm đốt ngón tay” được nhà thơ Cung Trầm Tưởng giải thích như sau:

“Thời đó tôi cũng có quen một cô thiếu nữ ở Huế và tôi mê lắm, cùng học trung học. Tôi có vợ chồng một anh bạn, cùng học một trường, anh có một đứa con sắp ra đời, và tôi là cha đỡ đầu cho đứa bé đó. Từ cảm hứng đó tôi mới làm bài này, trong có câu “bấm đốt ngón tay chờ đợi/chờ ngày con thơ, thơ ra đời”.

Có lẽ cũng vì quen với cô thiếu nữ Huế, nên dù là một người gốc Bắc, thi sĩ dùng những chữ rất Huế trong bài thơ này, như là “bên ni, bên nớ, bên tê”.

Ca khúcBên Ni Bên Nớđã được ca sĩ Julie Quang hát trước năm 1975, nhưng bài hát này chỉ thành công nhất là với tiếng hát Khánh Ly sau năm 1975. Cô thể hiện bài hát này thành công đến nỗi có lẽ vì vậy mà sau đó không có ca sĩ nào hát lạiBên Ni Bên Nớnữa. Bài hát có giai điệu mông lung, hoang hoải và đậm không khí liêu trai, hoàn toàn thích hợp với giọng hát liêu trai – Khánh Ly.

Bài: Đông KhaBản quyền bài viết của nhacxua.vn

Phạm Duy viết về mùa Xuân rất nhiều. Ở đây, tôi xin nêu một vài cảm nhận về mùa Xuân...

Trong số những ca khúc viết thời đi kháng chiến của nhạc sĩ Phạm Duy, hầu hết là những ca...

Những ca khúc tân nhạc viết về Mùa Xuân được sáng tác vào đầu những năm 1950 vốn không phải...

Trong tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có thể không phải là người tài năng nhất, không phải...

Sau đây là bài viết của cố danh ca Quỳnh Giao nói về Đường Chiều Lá Rụng, một ca khúc...

Sau khi vào tới miền Nam, hát xong tại Sài Gòn, gánh hát Đức Huy khởi sự xuống Lục tỉnh....

© 2020NhacXua.VN- Nhạc Xưa Thời Báo.

📝Tổng quan

Tổng quan

"Bên Ni Bên Nớ" là một ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ "Tương Phản" của thi sĩ Cung Trầm Tưởng. Ra đời trong thập niên 1950, ca khúc này được biết đến như một bức tranh âm nhạc màu xám đầy tương phản về đô thành Sài Gòn, mang đậm chất liêu trai và nội dung sâu sắc. Bài hát đã đạt được thành công nổi bật qua tiếng hát của danh ca Khánh Ly.

🎨Nội dung nghệ thuật

Đặc điểm âm nhạc và Lời ca

"Bên Ni Bên Nớ" là một ca khúc mang đầy chất liêu trai, với giai điệu mông lung, hoang hoải và ca từ tuy mông lung nhưng có thể làm ám ảnh người nghe. Nội dung bài hát phơi bày hai cảnh đời mâu thuẫn tại Sài Gòn những năm 1950, nhưng đồng thời cũng đề cao tình nhân ái, tinh thần tích cực và an vui hạnh phúc của con người, ngay cả khi phải sống trong cảnh nghèo túng.

Phần lời ca mở đầu bằng "Đêm chớm ngày tàn, theo tiếng xe về, lăn về viễn phố..." vẽ nên một bức tranh động, mơ hồ của buổi cuối ngày. Tiếng xe hối hả, sương rơi, đêm xuống, tạo nên không gian của những bãi đất hoang vu và nghĩa trang u buồn. Giữa khung cảnh đó, tiếng gõ guốc xa xa vang lên như một thanh âm của sự sống, một chút giao cảm hiếm hoi, kết nối sự hoang liêu với những rộn ràng của đô thành. Câu "Người xa vắng người" thể hiện linh cảm của nhà thơ về sự phân hóa xã hội, sự phân ly giữa giàu và nghèo, sống và chết.

Sự tương phản này được mô tả rõ nét hơn ở đoạn sau: "Em có nghe dồn giã bước ai vất vả bóng ai chập chờn? Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúng... Thương ai lạc loài ăn mày xán lạn ngày mai...". Hình ảnh kẻ ăn mày chập chờn như bóng ma trong đêm tối, với lời van xin bi ai, tượng trưng cho những con người ở "bên ni" – nơi tối tăm, nghèo nàn nhưng đầy ắp lòng thương cảm. Đối lập hoàn toàn là "bên nớ" của đô thành, nơi có "những truy hoan dài theo chuỗi cười vô tận" và "giai nhân nằm khoe lõa thể", nhưng lại chất chứa "vạn mảnh ly tan". Từ đó, nhìn về "bên ni phố vắng" chỉ thấy một nỗi ngậm ngùi ngân dài.

Đoạn cuối bài hát, nhạc sĩ Phạm Duy đã "rút gọn" câu chữ cho phù hợp với nhạc, khiến ý nghĩa trở nên trừu tượng và ẩn hiện một cách mơ hồ. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với nguyên tác bài thơ, đoạn cuối vẫn nhấn mạnh sự tương phản: dù "bên nớ" có những ly tan, nhưng "bên ni" những người nghèo khó vẫn tràn đầy tình cảm. "Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng" và "bên trong kín gió ấm ơi là tình" là minh chứng cho sự ấm áp, gắn kết của tình người, bất chấp cảnh nghèo khó và cái lạnh bên ngoài.

Đặc biệt, dù là người gốc Bắc, thi sĩ Cung Trầm Tưởng đã sử dụng nhiều từ ngữ mang đậm chất Huế như "bên ni, bên nớ, bên tê", được cho là do ảnh hưởng từ mối tình với một cô thiếu nữ Huế.

🎤Các phiên bản nổi bật

Các phiên bản và Dấu ấn

Ca khúc "Bên Ni Bên Nớ" đã được ca sĩ Julie Quang trình bày trước năm 1975. Tuy nhiên, bài hát này chỉ thực sự thành công vang dội và để lại dấu ấn sâu đậm nhất qua tiếng hát của danh ca Khánh Ly sau năm 1975. Giọng hát liêu trai, ma mị và đầy cảm xúc của Khánh Ly hoàn toàn phù hợp với giai điệu mông lung, hoang hoải và không khí liêu trai của ca khúc. Sự thể hiện xuất sắc của Khánh Ly đã khiến "Bên Ni Bên Nớ" trở thành một trong những tác phẩm gắn liền với tên tuổi cô, đến nỗi sau này ít có ca sĩ nào dám hát lại vì khó lòng vượt qua cái bóng quá lớn mà cô đã tạo ra.

🌟Ý nghĩa & Tầm ảnh hưởng

Hoàn cảnh sáng tác

Nguyên tác bài thơ "Tương Phản" được thi sĩ Cung Trầm Tưởng sáng tác khi ông mới 18 tuổi và đang sống ở vùng Dakao. Vào thời điểm đó, Dakao vẫn là một vùng ngoại thành tối tăm, hoang vắng và xơ xác, như được mô tả trong các ca khúc khác cùng thời như "Kiếp Nghèo" của Lam Phương hay "Xóm Đêm" của Phạm Đình Chương.

Một đêm, từ vùng ngoại ô của mình, Cung Trầm Tưởng nhìn về phía đô thành Sài Gòn với đèn hoa rực rỡ và nhận ra một bức tranh tương phản rõ nét: một bên là sự tráng lệ của đô thị, và bên kia là sự hoang liêu như một bãi tha ma. Chính từ cảm hứng này, ông đã viết nên bài thơ "Tương Phản". Sau đó, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ này thành ca khúc "Bên Ni Bên Nớ", với ca từ khá sát với lời thơ gốc.

Thi sĩ Cung Trầm Tưởng cũng giải thích về hình tượng "bấm đốt ngón tay" trong bài thơ. Ông kể rằng vào thời điểm đó, ông có quen một cô thiếu nữ ở Huế và rất mến mộ. Cùng lúc, một cặp vợ chồng bạn bè cùng trường của ông sắp có con, và ông là cha đỡ đầu cho đứa bé đó. Những cảm hứng cá nhân này đã góp phần hình thành nên câu "bấm đốt ngón tay chờ đợi/chờ ngày con thơ, thơ ra đời" trong tác phẩm.

⚖️Bản quyền & Pháp lý

Tình trạng pháp lý và Bản quyền

Đang cập nhật.